Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống (Cakkavati-Sìhanàda sutra) đức Thế Tôn có dạy rằng:
“Thuở xưa, này các Tỷ kheo, có Vua Chuyển luân Thánh vương tên là Kiên-Cố-Niệm, là vị Pháp vương, lấy Chánh pháp trị nước, chinh phục bốn thiên hạ, thống trị các quốc độ. Vị ấy có đầy đủ bảy món báu là: xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, nữ báu, gia chủ báu và tướng quân báu. Vị ấy có hơn một ngàn hoàng tử, dõng kiện, hùng mạnh, nhiếp phục ngoại địch. Vị này trị vì quả đất cho đến hải biên, dùng Chánh pháp trị nước, không dùng trượng, không dùng kiếm”. Sau khi thọ mạng sắp mãn Vua Kiên Cố Niệm nhường ngôi cho con là Vua Quán Đảnh để đi xuất gia, Vua Quán Đảnh cũng lấy Chánh pháp trị vì thiên hạ”…
“Này các Tỷ kheo, vua Quán Đảnh từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y qua một bên vai, tay trái cầm bình nước, tay mặt tưới nước trên xe Bảo luân (xe báu Chánh pháp trị) và nói: “Hãy lăn, này Thiên Bảo luân, hãy nhiếp phục tất cả”. Xe báu lăn về hướng đông, Chuyển luân Thánh vương theo sau cùng với bốn loại binh chủng. Và này các Tỷ kheo, chỗ nào xe báu ấy dừng lại, chỗ ấy Chuyển luân Thánh vương an trú, cùng với bốn loại chủng binh. Này các Tỷ kheo, các vị vua chư hầu ở hướng đông đều đến yết kiến Chuyển luân Thánh vương và nói lời thỉnh cầu:
- Hãy đến đây, Ðại vương! Thiện lai, Ðại vương! Tất cả đều thuộc của Ðại vương! Ðại vương hãy thuyết giảng!
Chuyển luân Thánh vương bèn nói:
- Chớ có sát sanh! Chớ có lấy của không cho! Chớ có sống tà hạnh trong các dục! Chớ có nói láo! Chớ có uống rượu! Và hãy thọ hưởng theo những gì đã có để thọ hưởng!
Này các Tỷ kheo, các vị vua chư hầu ở hướng Ðông đều trở thành chư hầu của Chuyển luân Thánh vương.
Này các Tỷ kheo, xe báu ấy chìm xuống biển hướng Ðông, vượt qua biển ấy, lăn về hướng Nam, các vị vua chư hầu ở hướng Nam đều trở thành chư hầu của Chuyển luân Thánh vương. Này các Tỷ kheo, rồi xe báu ấy chìm xuống biển hướng Nam, vượt qua biển ấy, lăn về hướng Tây, các vị vua chư hầu ở hướng Tây đều trở thành chư hầu của Chuyển luân Thánh vương. Này các Tỷ kheo, rồi xe báu chìm xuống biển hướng Tây, vượt qua biển ấy, lăn về hướng Bắc, và Chuyển luân Thánh vương theo sau cùng với bốn loại binh chủng. Và này các Tỷ kheo, chỗ nào xe báu ấy dừng lại, chỗ ấy Chuyển luân Thánh vương an trú cùng với bốn loại binh chủng. Này các Tỷ kheo, các vị vua chư hầu ở hướng Bắc đều đến yết kiến Chuyển luân Thánh vương và nói lời thỉnh cầu:
- Hãy đến đây, Ðại vương! Thiện lai, Ðại vương! Tất cả đều thuộc của Ðại vương! Ðại vương hãy thuyết giảng!
Chuyển luân Thánh vương bèn nói:
- Chớ có sát sanh! Chớ có lấy của không cho! Chớ có sống tà hạnh trong các dục! Chớ có nói láo! Chớ có uống rượu! Và hãy thọ hưởng những gì đã có để thọ hưởng!
Này các Tỷ kheo, các vua chư hầu ở hướng Bắc đều trở thành chư hầu của Chuyển luân Thánh vương.
Này các Tỷ kheo, sau khi xe báu ấy đã chinh phục quả đất cho đến hải biên, liền trở về kinh đô, và đứng lại như là dính liền trước cửa điện công lý, trong nội cung của Chuyển luân Thánh vương và chói sáng nội cung của vua”.
Đọc đến đây, chúng tôi bổng liên tưởng đến xe “Thiên Bảo Luân” với thánh tượng “Phật Ngọc Hòa Bình Thế Giới” ngày nay đang du hoá khắp nơi, mang theo ước vọng hòa bình cho cả nhân loại và chư thiên.
Lại nữa trong “Lược Truyện Tiền Thân Của Đức Phật” có câu chuyện “Chuyển Luân Thánh Vương” như sau:
“Một hôm tại thành Câu-Thi-Na, trong rừng Ta-La Song-Thọ, trước những ngày đức Phật sắp nhập Niếp-bàn, tôn giả A-Nan và đại chúng vô cùng buồn khổ, nhất là A-Nan tâm thần hôn mê, hồn bất phụ thể, quên ăn bỏ ngủ, vì nghĩ rằng Phật sắp lìa đời, như mặt trời rơi rụng, như con mắt thế gian không còn, như con thơ mất mẹ.
Sau khi được Phật an ủi khuyến hóa, A-Nan tỉnh ngộ, liền bạch Phật rằng: “Kính bạch đức Thế-Tôn! Thành Câu-Thi-Na này so với các thành Vương-Xá, thành Ba-La-Nại, thành Xá-Vệ, thành Tỳ-Xá-Ly, thì Câu-Thi-Na quả là nhỏ bé, kém văn hóa không khác gì nơi biên địa. Ngài nhập Niết-bàn nơi đây chúng sanh không được lợi ích nhiều. Con nay trộm nghĩ, tốt hơn, đức Thế-Tôn nên rời Câu-Thi-Na nầy, để đến các thành lớn kia nhập Niết-bàn. Nơi đó dân chúng đông đúc, trình độ văn hóa cao, lòng tin nơi đạo Ngài sâu đậm. Như vậy chúng sanh sẽ được nhiều lợi lạc hơn”.
Nghe tôn giả A-Nan trình bày xong, đức Phật từ hòa nói: “Nầy A-Nan! Ông không nên nói như thế! Ông đâu có biết rằng, thuở quá khứ thành Câu-Thi-Na nầy có một vị Chuyển-luân Thánh-vương tên là Ðại-Thiện-Kiến ngự trị, đem Chánh pháp thống nhiếp bốn châu thiên hạ. Lúc bấy giờ vương thành mỗi bề rộng trên mười cây số, có bảy lớp thành bao bọc chung quanh. Lớp thành thứ nhất bằng vàng. Lớp thành thứ hai bằng bạc. Lớp thành thứ ba bằng lưu ly. Lớp thành thứ tư bằng pha lê. Lớp thành thứ năm bằng xa cừ. Lớp thành thứ sáu bằng mã não. Lớp thành thứ bảy tổng hợp tất cả các thứ châu báu trên đời làm thành. Cứ mỗi lớp thành là có ao nước tám công đức bao bọc. Ðền đài lầu các bao lơn đều làm toàn bằng bảy thứ bảo châu, điêu khắc chạm trổ huy hoàng trang nghiêm rực rỡ. Bốn cửa thành mỗi cửa đều có chín từng lớp chạm trổ sơn son thếp vàng ngời sáng thật là hoa lệ. Cây cối trong thành xanh tươi mát mẻ quanh năm. Có đủ thứ chim quý ngày ngày reo hót thanh thót trên cành cây, bay lượn trên mặt nước hồ. Trong vườn muôn thứ hoa thơm cỏ lạ rộn nở bốn mùa. Khắp hoàng thành, gió thoảng cành cây, các loài chim quý hòa tấu tạo thành âm thanh thiên nhạc. Nhân dân trong thành đều phú quý giàu sang”. Lại nữa:
“Vua Ðại-Thiện-Kiến là bậc vua hiền đức, tướng mạo đoan trang, dân chúng trong thành ai nấy đều quý mến ngưỡng mộ như bậc cha mẹ. Một hôm nhà vua muốn đi du ngoạn để xem dân tình, liền hạ lệnh cho quan chủ binh chuẩn bị tám vạn bốn ngàn xe ngựa để cho cung phi mỹ nữ và Bà-La-Môn, trưởng giả, cư sĩ đồng tham dự cuộc du ngoạn này. Riêng vua Ðại-Thiện-Kiến cưỡi trên lưng con bạch tượng đi giữa quân hầu. Dân chúng nghe vua xuất thành, đồng nhau kéo đến đứng hai bên đường hàng hàng lớp lớp để được nhìn dung nhan của đức vua. Khắp nơi, vua Ðại-Thiện-Kiến đều thấy cỏ cây hoa lá xanh tốt dẫy đầy, dân chúng đâu đâu cũng được hưởng thái bình âu ca lạc nghiệp. Nhà vua lại còn hạ lệnh xây thêm hồ ao ở những nơi ngã tư đường, trồng cây mát, hoa thơm để cho dân chúng đến tắm rửa thưởng ngoạn. Ðồng thời vua Ðại-Thiện-Kiến còn sắc chỉ cho các quan địa phương nên đem của cải, tiền, vàng, bạc trong kho ra bố thí để tùy sở thích của dân chúng mà lấy dùng”.
“Này A-Nan! Nhà vua ấy lại vào tịnh thất quán tưởng biết được thời quá khứ của mình nhờ tu hạnh bố-thí, nhẫn-nhục, từ bi mà nay được phước báu làm Chuyển-luân Thánh-vương tôn quý nhất trên đời không ai sánh bằng. Nhà vua ấy lại phát nguyện triệt để tinh tấn tu Tứ-vô-lượng-tâm, cung phi mỹ nữ hoàng thân quốc thích cùng cố gắng tu tập”…
“Này A-Nan! Vua Chuyển-luân Thánh-vương Ðại-Thiện-Kiến kia trị vì bốn châu thiên hạ, nhưng nhà vua cũng chỉ ở một thành Câu-Thi-Na cõi Diêm-phù-đề; voi ngựa mỗi thứ có đến hơn tám vạn bốn ngàn con, nhưng nhà vua cũng chỉ cưỡi có một con. Tuy có tám vạn bốn ngàn xe làm bằng thất bảo sẵn sàng cung ứng, nhưng nhà vua cũng chỉ ngồi một chiếc. Tuy có tám vạn bốn ngàn phu nhân, nhưng nhà vua chỉ yêu quý có một người. Tuy có hơn tám vạn bốn ngàn lâu đài cung điện làm bằng châu báu, mà thật sự nhà vua cũng chỉ ở một cung điện. Thế mà nhà vua phải bận tâm lo khắp bốn châu thiên hạ, buộc lòng vào chuyện chúng sanh, luống mệt tinh thần, mà chính bản thân không được mấy chân lợi ích”.
Ðức Phật lại bảo tiếp: “Vua Chuyển-luân Thánh-vương Ðại-Thiện-Kiến tôn quý kia không phải là người nào khác mà chính là tiền thân của ta. Thành Câu-Thi-Na huy hoàng rực rỡ rộng lớn ngày xưa, chính là thành Câu-Thi-Na nhỏ hẹp ngày nay. Sự việc như thế, sao ông có thể nói thành Câu-Thi-Na nầy là chỗ biên địa được ư?”.
Trên đây là 2 câu chuyện, trước là chuyện vua Chuyển Luân Thánh Vương ở cõi thiên giới, sau là chuyện vua Chuyển Luân Thánh Vương ở cõi nhân gian nhưng cả hai khi đã xuất hiện đều mang lại hòa bình thịnh trị cho cả nhân loại và chư thiên. Phật Ngọc Hòa Bình Thế Giới hiện nay cũng mang cùng xứ mạng đó, đi gieo rắc hạt giống tình thương xây dựng một thế giới Hòa Bình cho cả vũ trụ vạn loài.
Khởi nguyên việc khắc tượng:
Theo quyển 28 Kinh Tăng Nhất A Hàm và quyển 5 Đại Đường Tây vực ký nói rằng: “Vào một mùa an cư năm nọ, tăng đoàn không nhìn thấy Đức Phật, Ngài đi đâu không ai biết được, chư vị đệ tử đến hỏi tôn giả A Nan, ngài A Nan cũng không biết. Nhưng tôn giả A Nan giới thiệu mọi người đến thỉnh ý bậc thiên nhãn đệ nhất là ngài A Na Luật. Sau khi tôn giả A Na Luật nhập định quan sát liền nói với mọi người rằng: Đức Phật đã lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho hoàng hậu Ma Gia”.
Đức Phật vì sao không nói mà đi lên cung trời Đao lợi thuyết pháp? một là, Ngài muốn báo đáp công ơn sinh thành của thánh mẫu; hai là Ngài thường khi ở bên cạnh các chúng đệ tử, một số người ỷ lại nên không quan tâm nghe pháp và thực hành lời Ngài dạy; ba là vì trong tăng đoàn có một số việc tranh chấp nên Ngài ra đi một thời gian để khiến cho những người tranh chấp có thể thật lòng ăn năn tỉnh ngộ. Đại chúng trong giáo đoàn sau khi biết được Đức Phật lên cung trời Đao Lợi trong lòng hoang mang. Người nhớ Phật nhiều nhất là vua Ưu Điền nước Bạt Sa, vua Ưu Điền sau lần đầu được vương phi hướng dẫn quy y Phật, đối với Phật ông sanh tâm cung kính cúng dường vô tận. Bây giờ nghe tin Phật đi xa nhiều ngày không gặp trong lòng lo buồn mà sanh bệnh. Khi vua lâm bệnh, các đại thần bàn bạc với nhau các phương pháp trị bệnh cho vua, trong đó có kiến nghị mời các thợ điêu khắc nỗi tiếng tạc tượng Đức Phật, để đức vua tiện việc sớm tối chiêm ngưỡng lễ bái. Vua rất đỗi vui mừng liền thỉnh ngài Mục Kiền Liên bậc thần thông đệ nhất dùng sức thần thông đưa người thợ điêu khắc lên tận cung trời để ông được đích thân nhìn thấy kim dung diệu tướng của Phật sau đó dùng gỗ chiên đàn khắc thánh tượng Phật cao 5 mét, tôn giả Mục Kiền Liên đã phải trực tiếp hướng dẫn người thợ lên cung trời đến 3 lần thánh tượng chiên đàn mới hoàn thành. Vua Ưu Điền nhân đó mà hết bệnh vui mừng khôn tả. Điều này cũng đã nói lên công đức của việc chiêm ngưỡng lễ bái thánh tượng.
Sau 3 tháng thuyết pháp ở cung trời Đao lợi, đức Phật trở lại nhân gian, Thánh tượng chiên đàn được vua Ưu Điền dựng lên nghinh đón Ngài, đức Phật mỉm cười nhìn thánh tượng mà nói rằng: “ Ngài giáo hoá có vất vã không? Chúng sanh đời mạt pháp thật là nhờ vào sự giáo hoá của ngài đó”! ý Ngài muốn dạy rằng dù là kim thân Phật hay thánh tượng đều là pháp thân linh hoạt tại thế gian này thay Ngài để giáo hoá chúng sinh.
Khởi nguyên việc đúc tượng:
Cũng theo quyển 28 Kinh Tăng nhất A Hàm và kinh Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Ni đà na có chép rằng: vua Ba Tư Nặc nước Kiều Tát La nghe vua Ưu Điền Dùng gỗ chiên đàn khắc thánh tượng Phật, nên ông cũng vì lòng cung kính đức Phật đã dùng vàng để đúc thành thánh tượng cao 5 mét, đó là việc đúc thánh tượng đức Phật sớm nhất vào thời bấy giờ. Kế tiếp là trưởng giả Cấp Cô Độc, một lần sau khi Đức Phật thuyết pháp ở tịnh xá Kỳ Viên, trưởng giả đến trước Phật đảnh lễ và bạch Phật rằng: “bạch Thế Tôn khi có thánh tượng của Ngài dựng ở trong giáo đoàn, mọi việc trở nên trang nghiêm, uy nghi, thanh tịnh như pháp mà sinh hoạt; có lúc Phật đi nơi khác giáo hoá, ở đây không có ngài làm trung tâm nên thấy thiếu một điều gì đó và tăng chúng từ trong tâm linh của mỗi người cũng cảm thấy trống trải hiu quạnh. Chúng con khẩn cầu Ngài cho chúng con được đúc tượng Ngài để mỗi khi Ngài đi hoằng hoá ở xa chúng con có thể chiêm ngưỡng và xem thánh tượng như nhìn thấy chính Ngài, như vậy mới có thể duy trì được sự thanh tịnh của giáo đoàn, làm cho uy đức của Phật luôn luôn chiếu sáng trong mỗi chúng con”!
Sau khi Đức Phật nghe xong, ngài vui vẻ đồng ý lời thỉnh cầu của Cấp Cô Độc và từ bi chỉ dạy: “Trưởng giả vì Phật Pháp mà đưa ra mong cầu như vậy, Ta đồng ý như tâm nguyện của Ngươi”. Cấp Cô Độc lại bạch Phật “bạch đức Thế Tôn! Nếu bên cạnh thánh tượng chúng con muốn treo tràng phan bảo cái và hương hoa cúng dường có được chăng xin Thế Tôn chỉ dạy cho. Đức phật nói: “tùy ý các người”.
Ngày nay, ông bà Ian Green là 2 vị cư sĩ Úc Đại Lợi, tu theo truyền thống Phật Giáo Tây tạng đã noi dấu người xưa phát tâm thỉnh khối ngọc quý trị giá hàng triệu đô la để đem về tạc nên thánh tượng với ước vọng “Phật Ngọc Cho Hòa Bình Thế Giới – The Jade Buddha For Universal Peace” thì quả là một con người có tấm lòng cao thượng bao la rất đáng trân trọng và công đức của 2 ông bà chắc chắn cũng thật là to tát vang vọng khắp cõi nhân thiên.
Chúng tôi thật rất cảm xúc khi đọc những bài kinh kể trên và cũng vô cùng cảm xúc khi được chiêm ngưỡng thánh tượng bằng Ngọc Thạch quý báu này trên NET. Một pho tượng khá vĩ đại bằng Ngọc Thạch nặng gần 5 tấn, với màu xanh ngọc bích, màu xanh của lá, màu xanh của cỏ cây, như mang sức sống của thiên nhiên chan hòa cùng vũ trụ vạn loài. Những đường nét tuyệt kỷ trên thân của thánh tượng do các nhà điêu khắc Thái Lan tạc nên đã khiến thánh tượng trông rất hùng tráng, sắc sảo và mang nét đẹp đặc thù của văn hoá Phật Giáo Nam Truyền. Một cảm giác an lành dâng lên trong chúng tôi khi được nhìn thấy thánh tượng này lần đầu tiên, và cũng là động lực thôi thúc chúng tôi quyết định cung thỉnh thánh tượng đến Edmonton Canada, để tạo duyên lành cho mọi người nơi đây được chiêm bái cúng dường, kết duyên với Đức Phật.
Tu Viện Tây Thiên, với khung cảnh mùa hè hoa trái xinh tươi, hồ nước trong xanh thoáng mát, khuông viên rộng rải, thiền đường khang trang, và những con đường mòn dọc theo bờ hồ hoặc đi men vào khu rừng nhỏ lẩn khuất trong tàng cây bóng rậm, thênh thang nhiều ngõ lối dành cho người đi thiền hành, hay niệm Phật chính là nơi mà chúng tôi chọn để tiếp rước Phật Ngọc Hòa Bình Thế Giới.
Chúng tôi cũng được biết quá trình du hành khắp nơi của thánh tượng “Phật Ngọc Hòa Bình Thế Giới”, có nhiều điều cảm ứng vi diệu đơn sơ như: Vầng hào quang xuất hiện trên không trung, mây ngũ sắc giăng trên bầu trời, vô số chim bồ câu tụ hội, dấu ấn Mạn-Đà-La trong không gian đạo tràng, mà máy ảnh nào cũng có thể chụp được,… từ tấm lòng thành của muôn người chúng ta hiệp lại dâng lên lời cầu nguyện thì chắc chắn phải có nhiều điều cảm ứng hơn thế nữa, bất khả tư, bất khả nghị từ các bậc hiền Thánh hay chư Phật.
Tóm lại, mục đích của việc tổ chức Lễ Chiêm Bái Thánh Tượng “Phật Ngọc Cho Hòa Bình Thế Giới” kỳ này chúng tôi chỉ có ước vọng là làm sao cho mọi người đều được lợi lạc và kết thêm nhiều duyên lành phúc đức:
- Kết duyên cho khán thính chúng khắp mọi nơi có dịp đến chiêm bái, cúng dường, tạo được nhiều duyên phước
- Kết duyên cho khóa tu học hằng năm của Chư Tăng, Ni và hàng Phật tử xa gần được nhiều thắng duyên tu tập
- Kết duyên cho Tu Viện Tây Thiên thôn dã này trở thành một trung tâm tu học để mang lại lợi lạc cho mọi người
- Kết duyên cho cõi nhân gian khi được gặp thánh tượng Phật Ngọc Hòa Bình Thế Giới này đều được chuyển hoá, tiêu tan mọi khổ đau, hận thù và nghèo khó để trở thành một thế giới hòa bình, hạnh phúc, ấm no và bình đẳng.
Trân trọng kính ghi,
Ban Tổ Chức Lễ Chiêm Bái Thánh Tượng
“Phật Ngọc Hòa Bình Thế Giới”